Đóng

05Th2

XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

Vụ án thực tế: Chị An và anh Phong kết hôn năm 1999, có đăng ký tại UBND xã. Sau chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng sống ly thân. Ngày 18/4/2019, chị An khởi kiện xin ly hôn anh Phong, anh Phong cũng đồng ý. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng có xây nhà hai tầng vào năm 2006. Về nhà, vợ chồng thống nhất là tài sản chung hai vợ chồng. Riêng về đất thì các bên không thống nhất được với nhau. Đất là của gia đình ông Hùng (bố đẻ anh Phong) được cấp đất giãn dân năm 1999. Năm 2004, xã tổ chức cho các hộ dân đi đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Hùng không đi kê khai và sang báo và anh Phong đi làm thủ tục cấp sổ đỏ, Phong đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Phong Vợ chồng anh xây nhà trên diện tích đất này từ năm 2004 và ở cho đến năm 2019 và không ai trong gia đình ông Hùng có ý kiến khiếu nại về việc cấp đất, xây nhà. Điều đó thể hiện ý chí gia đình ông Hùng đã cho anh Phong và chị An diện tích đất trên.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Căn cứ vào án lệ số 03/2016/AL trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.

Thứ nhất, ông Hùng cho hai vợ chồng xây nhà để ở trên mảnh đất này sau khi hai người kết hôn. Sau khi có chủ trương của xã về đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Hùng không đi. Anh Phong đi làm thủ tục cấp sổ đỏ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, vợ chồng anh Phong  đã xây nhà, sinh sống ổn định, lâu dài trên mảnh đất đó, cả gia đình ông Hùng đều biết nhưng không ai đi khiếu nại gì về việc cấp đất và xây nhà của anh chị.

Từ những căn cứ đó, chứng minh rằng gia đình ông Hùng đồng ý cho anh Phong chị An mảnh đất đó và mảnh đất được xác định là tài sản chung của cả hai vợ chồng (tài sản có được sau khi kết hôn).

Về nguyên tắc phân chia tài sản chung Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, tuy nhiên phải tính đến công sức đóng góp của mỗi bên và cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật nhằm đảm bảo lợi ích cho các bên.

Tg: Ls Phạm Thị Nhàn

Nếu các bạn có bất kỳ thắc mắc nào, vui lòng liên hệ:

 Luật sư Phạm Thị Nhàn 0968.605.706.

Văn phòng: Công ty luật Bất Động Sản Hưng Vượng

43 Lê Thị Hồng Gấm, p.Nguyễn Thái Bình, Quận 1, HCM.

Fanpage: LUẬT SƯ NHÀ ĐẤT